Đấu dây một bộ nguồn tổ ong Mean Well LRS gồm ba việc theo thứ tự: nối dây đất vào cọc FG, nối điện lưới vào cọc L và N, rồi lấy điện một chiều ra ở cọc +V và -V. Trước khi cấp điện, kiểm công tắc chọn điện áp vào (chỉ một số mã có), sau đó đo điện áp ra khi chưa gắn tải và chỉnh bằng biến trở nếu cần. Bài này đi từng bước cho một bộ nguồn, kèm bảng cọc, bảng công tắc và bảng dải chỉnh áp lấy từ datasheet hãng. Nếu bạn ghép nhiều bộ, đọc thêm bài về đấu nối nguồn tổ ong song song và nối tiếp.
Cần chuẩn bị gì trước khi đấu nguồn LRS?
Bạn cần ngắt hẳn điện ở aptomat cấp cho nguồn, một đồng hồ vạn năng, tua vít vừa vít M3.5, dây và đầu cos đúng cỡ. Đọc nhãn mã trên thân nguồn để biết điện áp ra và dòng định mức, vì hai số này quyết định cỡ dây và dải chỉnh áp.
An toàn điện: cọc L và N mang điện lưới. Ngắt aptomat và kiểm tra bằng bút thử hoặc đồng hồ rằng không còn điện rồi mới chạm vào cầu đấu. Dây đất phải nối vào cọc FG: hãng yêu cầu FG nối với đất, đừng bỏ qua bước này.
Chỗ lắp nên cách nguồn nhiệt khác 10-15 cm và không che quạt hay lỗ thoáng của vỏ, theo hướng dẫn lắp đặt của hãng. Chuẩn bị xong thì xem nguồn của bạn có bao nhiêu cọc.
Cầu đấu nguồn LRS gồm những cọc nào?
Mọi nguồn LRS xếp cọc cùng một thứ tự: cọc 1 là L (pha), cọc 2 là N (trung tính), cọc 3 là FG (đất), sau đó đến nhóm -V và nhóm +V. Mã công suất lớn có nhiều cọc cùng cực để chia dòng. Riêng LRS-1200 tách thành ba cầu đấu.
| Nhóm mã | Số cọc | L, N, FG | Cọc -V | Cọc +V |
|---|---|---|---|---|
| LRS-35, LRS-50, LRS-75 | 5 | 1, 2, 3 | 4 | 5 |
| LRS-100, LRS-150, LRS-150F | 7 | 1, 2, 3 | 4-5 | 6-7 |
| LRS-200, LRS-350, LRS-450, LRS-600 | 9 | 1, 2, 3 | 4~6 | 7~9 |
| LRS-1200 | TB1 (L, N, FG), TB2 (-Vo), TB3 (+Vo) | TB1: 1, 2, 3 | TB2 | TB3 |
Vít cầu đấu là M3.5 cho các mã từ LRS-35 đến LRS-600. LRS-1200 vào điện bằng vít M3.5 nhưng cọc ra dùng vít M5. Cổng CN1 6 chân của LRS-1200 (chân đo từ xa, DC_OK, bật tắt từ xa) là đường tín hiệu, nằm ngoài phạm vi bài này.
Nguồn LRS của bạn có công tắc 115V/230V không?
Tùy mã. LRS-150, LRS-200, LRS-350, LRS-450 và LRS-600 có công tắc chọn điện áp vào. LRS-35, LRS-50, LRS-75, LRS-100 và LRS-150F dùng dải rộng nên không có gì để gạt. LRS-1200 chỉ nhận 180~305VAC. Lưới 220V ở Việt Nam thì gạt về phía 230V.
| Mã | Công tắc | Dải điện áp vào |
|---|---|---|
| LRS-35, LRS-50, LRS-75, LRS-100, LRS-150F | Không | 85~264VAC |
| LRS-150 | Có | 85~132VAC hoặc 170~264VAC |
| LRS-200, LRS-350 | Có | 90~132VAC hoặc 180~264VAC |
| LRS-450, LRS-600 | Có | 90~132VAC hoặc 180~264VAC |
| LRS-1200 | Không | 180~305VAC |
Gạt công tắc sai là lỗi nặng nhất của cả bài: theo hỏi đáp của Mean Well, công tắc đang ở 115V mà điện thật là 230V thì nguồn bị hỏng. Hãy nhìn tận mắt vị trí công tắc trước khi cấp điện, kể cả với nguồn mới mở hộp. Ở dải 90~132VAC, LRS-200, LRS-350 và LRS-600 còn phải giảm tải (khoảng 80% tải ở 90VAC), nên khi nguồn lưới yếu, đừng kéo đủ công suất. Cách đọc nhãn và dải điện vào nói chung có trong bài đọc thông số nguồn tổ ong.
Chọn dây và đầu cos theo dòng ra thế nào?
Chọn theo dòng chạy qua dây, tra bảng cỡ dây của hãng: dưới 6A dùng 0.75 mm², 6-10A dùng 1.0 mm², 10-16A dùng 1.5 mm², 16-25A dùng 2.5 mm². Dùng đầu cos đúng cỡ vít M3.5, siết 8-10 kgf-cm.
| Dòng chạy qua dây | Cỡ dây AWG | Tiết diện |
|---|---|---|
| Đến 6A | AWG18 | 0.75 mm² |
| 6-10A | AWG16 | 1.0 mm² |
| 10-16A | AWG14 | 1.5 mm² |
| 16-25A | AWG12 | 2.5 mm² |
| 25-32A | AWG10 | 4 mm² |
| 32-40A | AWG8 | 6 mm² |
Ví dụ theo bảng: nguồn 24V có dòng ra định mức 14.6A thì dây phía tải dùng 1.5 mm²; bản 12V có dòng 29A dùng 4 mm². Hãng thêm hai điều kiện: nếu từ 5 dây trở lên cùng nối vào nguồn thì mỗi dây chỉ được tải 80% dòng trong bảng, và mọi sợi đồng của dây phải vào hết cầu đấu, vít siết chắc. Với dòng trên 40A (như bản 5V của LRS-350 có dòng 60A), bảng của hãng dừng ở AWG8. Lúc đó bạn chia dòng ra nhiều dây, nhiều cọc +V và -V cùng cực, thay vì tự chọn một tiết diện ngoài bảng.
Các bước đấu dây một bộ LRS
- Ngắt điện và đặt công tắc. Ngắt aptomat, kiểm tra hết điện. Nếu nguồn có công tắc điện áp vào, gạt về 230V.
- Nối dây đất vào FG (cọc 3). Đầu cos bắt vào cọc, siết 8-10 kgf-cm, đầu kia bắt vào đất của tủ hoặc vỏ thiết bị.
- Nối điện lưới. Dây pha vào L (cọc 1), dây trung tính vào N (cọc 2). Kéo nhẹ từng dây để chắc đã chặt.
- Thử khi chưa có tải. Chưa nối tải, đóng aptomat. Đèn LED báo nguồn sáng, đo bằng đồng hồ vạn năng ở thang DC giữa +V và -V, so với điện áp ghi trên nhãn.
- Nối tải. Ngắt điện lại, nối cực dương của tải vào +V, cực âm vào -V. Siết vít đủ lực, rồi đậy nắp che cầu đấu nếu tủ có người chạm tới; nắp che cầu đấu TBC-07 của Đại Lý Mean Well dùng cho họ RD, RS, LRS, RSP, bạn chọn đúng cỡ theo mã nguồn.
- Cấp điện và quan sát. Đóng aptomat, đo lại điện áp tại đầu tải, sờ thử vỏ nguồn và dây sau vài phút chạy.
Chỉnh điện áp ra bằng biến trở thế nào cho an toàn?
Tìm biến trở nhỏ cạnh đèn LED báo nguồn, cấp điện khi chưa gắn tải, rồi dùng tua vít nhỏ cách điện vặn thật từng chút, vừa vặn vừa đọc điện áp trên đồng hồ ở +V và -V. Datasheet không ghi chiều vặn, nên bạn thử một chút rồi đo để biết chiều tăng, chiều giảm.
Biến trở có ký hiệu SVR1 trên LRS-150, VR1 trên LRS-1200 và nhãn “+V ADJ.” trên LRS-200, LRS-350. Dải chỉnh phụ thuộc điện áp ra và nhóm mã:
| Nhóm mã | Bản 12V | Bản 24V | Bản 48V |
|---|---|---|---|
| LRS-35 đến LRS-350 | 10.2~13.8V | 21.6~28.8V | 43.2~52.8V |
| LRS-450, LRS-600 | 11.4~13.2V | 22.8~26.4V | 45.6~52.8V |
| LRS-1200 | 12~15V | 24~28V | 48~56V |
Ba điều cần nhớ khi chỉnh:
- Chừa biên với ngưỡng OVP. LRS-350-24 chỉnh được tới 28.8V, trong khi ngưỡng bảo vệ quá áp (OVP) của mã này nằm trong khoảng 28.8~33.6V. Đỉnh dải chỉnh trùng điểm đầu của ngưỡng bảo vệ, nên đừng vặn kịch trần, dừng thấp hơn một chút.
- Tăng áp thì dòng tối đa giảm. Hãng giữ công suất ra không vượt định mức. Theo phép tính của bài này (không phải số datasheet), LRS-350-24 có công suất 24V × 14.6A = 350.4W; chỉnh lên 27V thì dòng tối đa còn khoảng 350.4 ÷ 27 ≈ 13A.
- Chỉ chỉnh khi điện vào ổn định. Theo ghi chú trong datasheet nguồn LRS, LRS-450 và LRS-600 chỉ nên chỉnh áp khi điện vào ở 100~120VAC hoặc 200~240VAC; LRS-1200 là 220~277VAC. Lưới đang tụt thì chưa nên chỉnh.
Sau khi gắn tải, đo lại điện áp ngay tại đầu tải: dây dài hoặc tiết diện nhỏ làm áp tại tải thấp hơn áp ở cọc nguồn, và bạn có thể phải chỉnh bù thêm trong dải cho phép.
Đèn không sáng hoặc nguồn chập chờn sau khi đấu thì kiểm gì?
Ngắt điện rồi kiểm theo thứ tự: vị trí công tắc điện áp vào, dây L và N đã vào hết cầu đấu chưa, tải có chập hoặc vượt dòng định mức không. Nguồn lúc sáng lúc tắt thường là bảo vệ quá tải hoặc ngắn mạch đang hoạt động.
Kiểu phục hồi sau bảo vệ khác nhau theo mã:
- LRS-200 và LRS-350 từ 3.3V đến 36V tự ngắt rồi thử lại (hiccup), tự phục hồi khi hết quá tải. Bản 48V thì khóa, bạn phải ngắt điện rồi bật lại.
- LRS-150 ngắt khi quá áp hoặc quá nhiệt, cấp lại điện để phục hồi.
- LRS-600 quá tải 105~150% thì sau 3 giây tắt, cần cấp lại điện; hãng khuyên nghỉ khoảng 4 phút trước khi khởi động lại.
Nếu nguồn vẫn tắt sau khi đã tháo hết tải, ngắt điện, kiểm lại công tắc và từng sợi dây ở cầu đấu, rồi thử lại từ bước đo không tải.
Kết luận
Đấu đúng thứ tự FG, rồi L và N, rồi +V và -V; gạt công tắc điện áp vào đúng bên; chọn dây theo bảng hãng; đo không tải trước khi gắn tải; chỉnh áp từng chút và chừa biên với ngưỡng OVP. Làm đủ các bước này thì phần lớn lỗi lúc đấu nguồn LRS tránh được. Chưa chọn được mã phù hợp tải của mình thì xem bài bộ nguồn một ngõ ra Mean Well LRS. Cần tư vấn chọn nguồn hoặc kiểm tra cách đấu theo sơ đồ tủ của bạn, liên hệ Đại Lý Mean Well để kỹ thuật hỗ trợ miễn phí.